Khu vực doanh nghiệp FDI hiện chiếm khoảng 80% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, trong khi doanh nghiệp trong nước chỉ còn giữ khoảng 20%. Theo Báo Thanh Niên ngày 13/10/2026, cơ cấu này đã đảo chiều hoàn toàn so với năm 1995 – thời điểm doanh nghiệp nội địa từng đóng góp 73% xuất khẩu và FDI chỉ chiếm 27%.
Vì sao xuất khẩu tăng nhưng giá trị nội địa tăng chậm?
Theo số liệu thống kê giai đoạn 2006 - 2025, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đạt bình quân 16,4%/năm, vượt trội so với mức 11,4%/năm của các doanh nghiệp nội địa.
TS Phạm Anh Tuấn, Phó viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và thế giới, nhận định sự dịch chuyển này phản ánh mức độ phụ thuộc ngày càng lớn vào khu vực ngoại khối. Dù kim ngạch xuất khẩu công nghệ cao liên tục mở rộng, giá trị gia tăng nội địa giữ lại cho nền kinh tế vẫn ở mức thấp do năng lực công nghệ trong nước cải thiện chậm và khu vực FDI chi phối phần lớn chuỗi cung ứng.
Nhằm thay đổi vị thế, TS Trần Du Lịch nhấn mạnh vai trò cốt lõi của các doanh nghiệp "sếu đầu đàn". Đây phải là những đơn vị có khả năng tổ chức chuỗi giá trị, tạo đơn hàng cho các nhà cung ứng vệ tinh, nâng chuẩn sản xuất công nghệ và kéo theo sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME).
Tác động tới nhà đầu tư
Sự phụ thuộc lớn vào khối FDI và định hướng tái cơ cấu chuỗi giá trị mang lại nhiều hàm ý cho thị trường:
- Doanh nghiệp niêm yết quy mô lớn: Các tập đoàn tư nhân và doanh nghiệp đầu ngành đối mặt áp lực nâng chuẩn quản trị, đầu tư R&D để giữ vai trò dẫn dắt và hưởng lợi từ chính sách hỗ trợ phát triển chuỗi giá trị nội địa.
- Ngành công nghiệp hỗ trợ và phụ trợ: Các đơn vị vệ tinh có cơ hội mở rộng tệp khách hàng nếu đáp ứng được tiêu chuẩn tham gia hệ sinh thái của các tập đoàn lớn.
- Rủi ro vĩ mô: Nền kinh tế đối mặt rủi ro thâm hụt giá trị giữ lại và tính dễ tổn thương trước biến động chuỗi cung ứng toàn cầu nếu tỷ trọng đóng góp của doanh nghiệp nội địa tiếp tục suy giảm.
