Theo kết luận của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 1, tính đến ngày 31/7/2026, Quỹ tín dụng nhân dân Nam Hồng (Hà Nội) ghi nhận tổng dư nợ hơn 380,5 tỷ đồng với 100% là nợ nhóm 1. Đáng chú ý, đơn vị này có quy mô 15 nhân sự với tổng chi phí cho nhân viên trong 7 tháng đạt hơn 3,522 tỷ đồng, tương đương mức chi bình quân khoảng 33,54 triệu đồng/người/tháng.
Theo vietnamnet.vn, toàn bộ dư nợ của quỹ đều là cho vay ngắn hạn, trong đó cho vay thành viên chiếm tới 99,8%. Cơ cấu cho vay tập trung vào ngành nghề (77,9%) và kinh doanh - dịch vụ (20,5%), trong khi bất động sản chỉ chiếm 0,2%. Về tài sản bảo đảm, quyền sử dụng đất chiếm áp đảo với 99% tổng dư nợ, tương đương 376,78 tỷ đồng.
Hoạt động tín dụng của Quỹ tín dụng Nam Hồng bộc lộ những thiếu sót nào?
Dù không ghi nhận nợ xấu nội bảng (nợ nhóm 2 đến 5 bằng 0%), quỹ vẫn theo dõi ngoại bảng hơn 3,72 tỷ đồng nợ gốc và 412 triệu đồng nợ lãi đã xử lý rủi ro. Qua kiểm tra chọn mẫu 109 hồ sơ, cơ quan thanh tra đã phát hiện nhiều tồn tại:
- Thẩm định tín dụng: Có 2 hồ sơ với dư nợ 4,97 tỷ đồng (chiếm 2,16% dư nợ kiểm tra) chưa thẩm định chặt chẽ khả năng trả nợ và thực trạng vay vốn của khách hàng tại các tổ chức tín dụng khác.
- Quản lý tài sản bảo đảm: Có 41 hồ sơ với dư nợ 90,42 tỷ đồng (chiếm 39,22% dư nợ kiểm tra) chưa thực hiện đăng ký thay đổi nội dung biện pháp bảo đảm khi thay đổi nghĩa vụ bảo đảm.
- Giám sát dòng tiền sau vay: 2 hồ sơ với dư nợ 2,65 tỷ đồng thiếu chứng từ chứng minh mục đích sử dụng vốn; 16 hồ sơ với dư nợ 30,87 tỷ đồng có biên bản kiểm tra nhưng chưa đánh giá nguồn thu nhập của bên vay.
Tác động tới nhà đầu tư
- Quản trị rủi ro hệ thống: Vụ việc phản ánh rủi ro kiểm soát lỏng lẻo tại phân khúc tài chính vi mô và các quỹ tín dụng nhân dân, nơi tỷ lệ tài sản bảo đảm bằng bất động sản rất cao (99%).
- Tính minh bạch số liệu: Tỷ lệ nợ xấu 0% trên sổ sách có thể chưa phản ánh đầy đủ rủi ro tiềm ẩn khi các khâu thẩm định nguồn thu và giám sát mục đích vay vốn còn thiếu sót.
- Điểm cần theo dõi: Mức độ chấn chỉnh quy trình thẩm định tài sản bảo đảm và khả năng thu hồi các khoản nợ ngoại bảng của hệ thống quỹ tín dụng cơ sở.