Mặt bằng lãi suất huy động và cho vay tại các ngân hàng thương mại Việt Nam đối mặt với thách thức duy trì bền vững sau đợt điều chỉnh giảm từ ngày 19/10. Theo vietnamnet.vn, chuyên gia kinh tế cảnh báo các mệnh lệnh mang tính hành chính hoặc cam kết đơn thuần khó giữ lãi suất ở mức thấp nếu điều kiện thị trường không hỗ trợ.
Vì sao cam kết giảm lãi suất khó duy trì lâu dài?
Thực tế từ đợt cam kết giảm lãi suất hồi tháng 4 cho thấy áp lực thanh khoản nhanh chóng khiến lãi suất huy động tăng trở lại. Sau cuộc họp với Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ngày 9/4, các nhà băng đồng thuận hạ lãi suất từ ngày 10/4, nhưng thị trường sau đó xuất hiện tình trạng thỏa thuận ngầm lãi suất nhằm giữ chân người gửi tiền.
Theo TS. Nguyễn Văn Lộc, Giám đốc Chương trình đào tạo Kinh doanh thương mại tại Đại học Phenikaa, lãi suất huy động phản ánh chi phí giữ vốn dựa trên kỳ vọng lạm phát, tỷ giá và cơ hội đầu tư khác của người dân. Nếu nhu cầu tín dụng cao mà lãi suất tiền gửi giảm sâu, dòng vốn sẽ dịch chuyển sang kênh khác, buộc các ngân hàng phải cạnh tranh tăng lãi suất trở lại. Đồng thời, lãi suất cho vay còn chịu tác động từ chi phí trích lập dự phòng và rủi ro tín dụng của bên vay.
Tác động tới nhà đầu tư
Biến động của mặt bằng lãi suất tạo ra những yếu tố then chốt cần quan sát
- Ngành ngân hàng: Biên lãi ròng (NIM) có thể chịu áp lực co hẹp nếu các ngân hàng hạ lãi suất cho vay theo định hướng nhưng chi phí vốn huy động thực tế không giảm tương ứng.
- Doanh nghiệp vay vốn: Chi phí tài chính chỉ thực sự giảm bền vững khi thanh khoản hệ thống dồi dào và các công cụ tài khóa, tiền tệ được phối hợp đồng bộ.
- Nhà đầu tư cá nhân: Cần theo dõi chặt chẽ áp lực thanh khoản hệ thống, biến động lạm phát và tỷ giá để dự báo xu hướng dịch chuyển của dòng tiền giữa kênh tiền gửi tiết kiệm và các kênh đầu tư tài sản.
Dữ liệu thị trường liên quan
Số liệu từ cơ sở dữ liệu TitanLabs, cập nhật phiên 21/10/2026; bấm vào mã để xem hồ sơ đầy đủ (định giá, dòng tiền, kỹ thuật).
| Mã | Giá | Phiên | P/E | Khối ngoại ròng 5 phiên |
|---|---|---|---|---|
| VCB | 56.400đ | +1,08% | 14,8 | -345 tỷ |
| BID | 34.100đ | +1,34% | 8 | -110 tỷ |
| CTG | 30.500đ | +0,16% | 6,5 | -21,1 tỷ |
