Tính đến ngày 16/10/2026, các công ty chứng khoán đầu tiên đã công bố báo cáo tài chính quý 3/2026 với sự phân hóa rõ nét về lợi nhuận. Trong khi CTCP Chứng khoán Việt Thành (VTS) bất ngờ chuyển từ lãi lớn sang lỗ gần 10 tỷ đồng, Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Public Việt Nam (PBSV) lại ghi nhận lợi nhuận tăng trưởng gần 60%.
Theo Nhịp sống thị trường, kết quả kinh doanh sơ bộ của hai đơn vị này phản ánh rõ nét tác động từ mảng tự doanh và hoạt động cho vay ký quỹ.
Diễn biến kinh doanh trái chiều tại VTS và PBSV ra sao?
Tại Chứng khoán Việt Thành (VTS), doanh thu hoạt động quý 3/2026 chỉ đạt hơn 7,2 tỷ đồng, giảm tới 83% so với mức 42 tỷ đồng cùng kỳ năm trước. Lợi nhuận trước thuế đảo chiều từ mức lãi 29 tỷ đồng trong quý 3/2025 sang lỗ gần 10 tỷ đồng.
Nguyên nhân chủ yếu do tự doanh kém khả quan khi lãi từ tài sản tài chính FVTPL giảm 86% xuống gần 5,3 tỷ đồng, trong khi khoản lỗ bán tài sản FVTPL tăng lên hơn 11,8 tỷ đồng. Mảng môi giới cũng thu hẹp khi doanh thu giảm hơn 83%, chỉ đạt khoảng 254 triệu đồng. Lũy kế 9 tháng, VTS lỗ trước thuế hơn 2 tỷ đồng (cùng kỳ lãi 41,3 tỷ đồng).
Ở chiều ngược lại, PBSV ghi nhận doanh thu hoạt động quý 3 đạt hơn 30 tỷ đồng, tăng gần 25% so với cùng kỳ. Động lực chính đến từ lãi cho vay và phải thu đạt gần 25,5 tỷ đồng, tăng 71%. Kết quả, PBSV báo lãi trước thuế quý 3 đạt gần 14 tỷ đồng, tăng 59% so với cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng đầu năm, lợi nhuận trước thuế của công ty đạt gần 37,8 tỷ đồng, gấp 2,3 lần cùng kỳ năm ngoái.
Tác động tới nhà đầu tư
Bức tranh lợi nhuận ban đầu cho thấy sự rủi ro và phân hóa cao trong nhóm ngành dịch vụ tài chính:
- Phụ thuộc vào tự doanh: Các CTCK quy mô nhỏ phụ thuộc lớn vào danh mục tự doanh như VTS chịu rủi ro biến động lợi nhuận rất mạnh khi thị trường điều chỉnh.
- Lợi thế từ mảng cho vay: Các công ty có nguồn vốn dồi dào để phát triển dư nợ cho vay như PBSV duy trì được dòng thu nhập ổn định hơn so với mảng môi giới hay tự doanh.
- Theo dõi mùa báo cáo: Nhà đầu tư cần chú ý cơ cấu nguồn thu của các CTCK niêm yết sắp công bố số liệu để đánh giá chất lượng lợi nhuận.